1. Trang chủ

Góc Nhìn BETVND: Quả bóng Vàng – Danh sách người chiến thắng từ năm 1956 đến nay

Trang bài viết BETVND dùng bố cục riêng, đồng thời liên kết sang các chuyên mục hỗ trợ đã được tách slug.

Tác giả: adminNgày đăng: 2026-07-14Chuyên mục: BETVND

Quả bóng Vàng là danh hiệu cá nhân danh giá nhất trong bóng đá, được trao cho cầu thủ được hội đồng giám khảo uy tín — gồm các nhà báo, huấn luyện viên và đội trưởng các đội tuyển quốc gia — đánh giá là người đạt đến đỉnh cao nhất trong nghề nghiệp của mình.

Nói một cách đơn giản hơn, giải thưởng này xác định ai là cầu thủ xuất sắc nhất hành tinh trong khoảng thời gian 12 tháng.

Tuy nhiên, thể thức không phải lúc nào cũng như vậy, bởi từ năm 1956 đến 2006, chỉ những tài năng thi đấu cho các câu lạc bộ châu Âu mới đủ điều kiện. Ban đầu được hai nhà báo Pháp làm việc cho France Football sáng lập, giải thưởng đã mất một thời gian dài mới mở rộng tầm nhìn ra ngoài biên giới châu lục.

Kể từ đó, Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA đã trở thành một sự kiện toàn cầu, với lễ trao giải thường niên xa hoa và quy tụ dàn sao hàng đầu.

Không khó để đoán thiên tài nhỏ bé nào sở hữu nhiều Quả bóng Vàng nhất: Lionel Messi đã giành số phiếu cao nhất trong tám lần, còn Cristiano Ronaldo cũng không kém quá xa với năm lần chiến thắng.

Quả thực, chúng ta thật may mắn khi được sống trong kỷ nguyên vĩ đại của họ.

Ở những vị trí khác, Michel Platini, Johan Cruyff và Marco Van Basten mỗi người có ba lần đoạt giải, còn việc Zinedine Zidane chỉ một lần được trao danh hiệu này có thể khiến nhiều người bất ngờ.

Đó là số phận của tiền vệ tài hoa khi anh bước vào giai đoạn đỉnh cao trong kỷ nguyên thống trị song mã của Messi và Ronaldo.

Điều thú vị là Pháp, Ý và Đức là ba quốc gia sản sinh ra nhiều chủ nhân Quả bóng Vàng nhất, với năm người mỗi nước. Tuy nhiên, Anh cũng hoàn toàn có quyền tự hào với bốn cầu thủ từng nhận giải. Thực tế, người chiến thắng đầu tiên chính là Sir Stanley Matthews, “Phù thủy rê bóng”.

Nhìn về tương lai, bạn không cần đến những nhận định bóng đá hôm nay của chúng tôi để đánh giá ai sẽ được trao vinh dự này trong các mùa giải sắp tới. Erling Haaland gần như chắc chắn sẽ đăng quang nếu tiếp tục duy trì thành tích ghi bàn phi thường, sau khi chân sút người Na Uy về nhì năm 2023.

Jude Bellingham cũng là một ứng viên gần như chắc chắn khác.

Và khi đêm vinh danh của họ cuối cùng cũng đến, họ sẽ gia nhập một danh sách lẫy lừng gồm những tên tuổi kiệt xuất đã đạt đến đỉnh cao trong nghề nghiệp và chinh phục thế giới.

Các chủ nhân Quả bóng Vàng:

  • 1956: Stanley Matthews (Blackpool)
  • 1957: Alfredo Di Stefano (Real Madrid)
  • 1958: Raymond Kopa (Real Madrid)
  • 1959: Alfredo Di Stefano (Real Madrid)

Những nhận định thể thao hẳn sẽ trở nên thừa thãi trong năm này nếu mục tiêu là xác định ứng viên có khả năng giành giải cao nhất.

Được một số người xem là cầu thủ Argentina vĩ đại nhất mọi thời đại — đúng vậy, thậm chí còn hơn cả Messi và Maradona — “Mũi tên tóc vàng” đang ở đỉnh cao phong độ vào cuối thập niên 1950.

Chỉ vài tháng sau, ông cùng Puskas hủy diệt Eintracht Frankfurt trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu, tạo nên một màn trình diễn xuất chúng chưa từng có trước đó.

  • 1960: Luis Suarez (Barcelona)
  • 1961: Omar Sivori (Juventus)
  • 1962: Josef Masopust (Dukla Prague)
  • 1963: Lev Yashin (Dynamo Moscow)
  • 1964: Denis Law (Manchester United)
  • 1965: Eusebio (Benfica)
  • 1966: Bobby Charlton (Manchester United)
  • 1967: Florian Albert (Ferencvaros)
  • 1968: George Best (Manchester United)
  • 1969: Gianni Rivera (AC Milan)
  • 1970: Gerd Muller (Bayern Munich)

Thành tích 38 bàn tại Bundesliga của tay săn bàn thượng hạng này ở mùa giải trước đã thiết lập một chuẩn mực không ai vượt qua được trong suốt cả một thế hệ, còn mười bàn thắng tại World Cup 1970 giúp chân sút đáng sợ người Đức giành Chiếc giày Vàng.

Hãy tưởng tượng tỷ lệ cược bóng đá vào năm 1970 cho khả năng Muller không đoạt Quả bóng Vàng. Có lẽ nó cũng ngang với khả năng Elvis được tìm thấy trên Mặt Trăng.

  • 1971: Johan Cruyff (Ajax)
  • 1972: Franz Beckenbauer (Bayern Munich)
  • 1973: Johan Cruyff (Barcelona)
  • 1974: Johan Cruyff (Barcelona)
  • 1975: Oleg Blokhin (Dynamo Kyiv)
  • 1976: Franz Beckenbauer (Bayern Munich)
  • 1977: Allan Simonsen (Borussia Monchengladbach)
  • 1978: Kevin Keegan (Hamburg)
  • 1979: Kevin Keegan (Hamburg)

Trong hai năm liên tiếp, Joseph Kevin Keegan, người sinh ra và lớn lên tại vùng mỏ Doncaster, là vua của châu Âu. Đầu tiên, ông truyền cảm hứng giúp Hamburg giành chức vô địch quốc gia, sau đó dẫn dắt họ thực hiện hành trình tại đấu trường châu lục kéo dài đến tận trận chung kết Cúp C1 châu Âu.

  • 1980: Karl-Heinz Rummenigge (Bayern Munich)
  • 1981: Karl-Heinz Rummenigge (Bayern Munich)
  • 1982: Paolo Rossi (Juventus)
  • 1983: Michel Platini (Juventus)
  • 1984: Michel Platini (Juventus)
  • 1985: Michel Platini (Juventus)
  • 1986: Igor Belanov (Dynamo Kyiv)
  • 1987: Ruud Gullit (AC Milan)
  • 1988: Marco van Basten (AC Milan)
  • 1989: Marco van Basten (AC Milan)
  • 1990: Lothar Matthaus (Internazionale)
  • 1991: Jean-Pierre Papin (Marseille)
  • 1992: Marco van Basten (AC Milan)

Những người thuộc một thế hệ nhất định có thể ngạc nhiên khi Van Basten giành tới ba danh hiệu. Sự thật là nghệ sĩ người Hà Lan chính là trung phong toàn diện nhất trong thế hệ của ông, thậm chí cả mọi thế hệ khác.

Nếu không bị những chấn thương nghiệt ngã hành hạ, tên tuổi ông hoàn toàn có thể được nhắc đến cùng đẳng cấp với Messi và Ronaldo.

  • 1993: Roberto Baggio (Juventus)
  • 1994: Hristo Stoichkov (Barcelona)
  • 1995: George Weah (AC Milan)
  • 1996: Matthias Sammer (Borussia Dortmund)
  • 1997: Ronaldo (Internazionale)
  • 1998: Zinedine Zidane (Juventus)
  • 1999: Rivaldo (Barcelona)
  • 2000: Luis Figo (Real Madrid)
  • 2001: Michael Owen (Liverpool)
  • 2002: Ronaldo (Real Madrid)
  • 2003: Pavel Nedved (Juventus)

Nhạc trưởng người Séc có lẽ là cái tên thú vị nhất trong toàn bộ danh sách này, một cầu thủ rất dễ bị lãng quên khi người ta điểm lại những tiền vệ kiệt xuất của thế kỷ 21.

Tuy nhiên, trong nhiều mùa giải khoác áo Juventus hùng mạnh, cầu thủ được đưa về Turin để thay thế Zidane đã thể hiện phong độ không khác gì một người khổng lồ.

  • 2004: Andriy Shevchenko (AC Milan)
  • 2005: Ronaldinho (Barcelona)
  • 2006: Fabio Cannavaro (Real Madrid)
  • 2007: Kaka (Milan)
  • 2008: Cristiano Ronaldo (Manchester United)

Quả bóng Vàng đầu tiên của CR7 là lựa chọn không cần phải bàn cãi. Khi ấy mới 23 tuổi, anh ghi 31 bàn tại giải vô địch quốc gia cho Quỷ đỏ trong mùa giải đó và đóng vai trò then chốt trong hành trình đăng quang Champions League của đội bóng.

  • 2009: Lionel Messi (Barcelona)
  • 2010: Lionel Messi (Barcelona)
  • 2011: Lionel Messi (Barcelona)
  • 2012: Lionel Messi (Barcelona)
  • 2013: Cristiano Ronaldo (Real Madrid)
  • 2014: Cristiano Ronaldo (Real Madrid)
  • 2015: Lionel Messi (Barcelona)
  • 2016: Cristiano Ronaldo (Real Madrid)
  • 2017: Cristiano Ronaldo (Real Madrid)
  • 2018: Luka Modric (Real Madrid)
  • 2019: Lionel Messi (Barcelona)
  • 2020: Không trao giải do đại dịch
  • 2021: Lionel Messi (PSG)
  • 2022: Karim Benzema (Real Madrid)
  • 2023: Lionel Messi (Inter Miami)
  • 2024: Rodri (Manchester City)
  • 2025: Chưa xác định

Lần đầu tiên, một chiến thắng của Messi đi kèm tranh cãi, khi nhiều người khẳng định cầu thủ Argentina đã không thể hiện đủ xuất sắc trong mùa giải đó để xứng đáng với danh hiệu thứ tám.

Có lẽ những người phản đối cũng có lý, xét đến số lượng kỷ lục ghi bàn mà “Viking săn bàn” Erling Haaland đã phá vỡ trong mùa giải 2022/23.


*Bản quyền ảnh trong bài viết này thuộc về Alamy*